Phong cách khiêm nhường của Hồ Chí Minh

Chủ nhật - 09/02/2014 23:22 | Nguyễn Thanh Phong
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991) đến nay, đã có nhiều tác giả, tác phẩm đi sâu trình bày có hệ thống những nội dung về tư tưởng chính trị, đạo đức, phong cách, phương pháp của Hồ Chí Minh. Riêng về “phong cách Hồ Chí Minh” cũng đã có những tác phẩm, tác giả đề cập sâu các nội dung cấu thành phong cách của Người như phong cách tư duy, phong cách sống, phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, giao tiếp…
Phong cách, không thuần túy chỉ là hình thức, cách thức biểu hiện, dáng vẻ bề ngoài mà chính là thể hiện cốt cách, nhân cách, tính cách và cao hơn là đạo đức – tư cách của một người. Vì vậy, trong cuộc sống, mỗi người đều có những tính cách, phong cách riêng. Mọi tính cách, phong cách vừa giản dị, trong sáng, vừa thanh cao, vừa lịch lãm thể hiện những đức tính tiêu biểu, ưu việt được mọi người thừa nhận, ca ngợi sẽ trở thành bài học, kiểu mẫu cho người đời. Chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh quy tụ được nhiều nhất những mẫu mực tiêu biểu như thế, trong đó có phong cách khiêm nhường.
Sự khiêm nhường của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện cụ thể, dễ nhận biết, như sự khiêm tốn, nhường nhịn, phong thái giao tiếp đậm tri thức văn hóa, trí tuệ mà còn là biểu hiện cao sâu đức độ, nhân văn. Ai cũng biết, Hồ Chí Minh là một trí giả uyên thâm, thấm nhuần sâu sắc các giá trị văn hóa Đông – Tây, kim – cổ, vậy mà Người chỉ nhận mình là một học trò nhỏ của các vị lãnh tụ kinh điển thế giới như Mác – Ăngghen – Lênin và cả Đức Phật, Chúa Giêsu, Mahatma Gandi, Tôn Dật Tiên…
Cũng với đức độ - phong cách ấy mà khi Bác bước vào tuổi 73, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tặng Huân chương Sao vàng và khi ở tuổi 77, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười, Đảng và Nhà nước Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin, Hồ Chí Minh đều xin được hoãn nhận. Người cho là mình chưa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, cho nên đề nghị Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như Liên Xô hoãn trao Huân chương. Quyết định của Hồ Chí Minh gây xúc động lớn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế. Người đã nêu cao bài học: Vinh quang, hạnh phúc của con người, của mỗi người, cho dù là một công dân bình thường hay là một lãnh tụ kiệt xuất, luôn gắn chặt với vinh quang và sự nghiệp của dân tộc, của đất nước.
Sự khiêm nhường của Bác còn thể hiện trong các quan hệ ứng xử. Năm 1948, trong lúc đất nước còn rất nghèo, lại phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống xâm lược Pháp, Chính phủ phát động toàn dân tham gia xây dựng quỹ kháng chiến. Các giới đồng bào đều nhiệt liệt hưởng ứng. Ở Hà Đông, có cụ Phùng Lục đã quyết định không tổ chức mừng sinh nhật của mình, mà dùng số tiền được biếu góp vào quỹ kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khen ngợi cụ Lục, coi đây là tấm gương cao đẹp cho quốc dân đồng bào. Trong thư cảm ơn và biểu dương cụ Phùng Lục, Người viết: “Những vị thượng thọ như cụ là của quý vô giá của dân tộc và nước nhà. Trong ngày chúc thọ, cụ lại miễn sự tế lễ linh đình, mà đem số tiền 500 đồng quyên góp vào quỹ kháng chiến. Như thế là cụ đã nêu cái gương hăng hái kháng chiến và cái gương sửa đổi cổ tục, thực hành đời sống mới cho toàn thể đồng bào noi theo.
Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm tạ cụ và trân trọng chúc cụ sống lâu và luôn mạnh khỏe để kêu gọi các con cháu ra sức tham gia công việc kháng chiến và cứu nước.
Cháu lại kính gửi cụ lời chào thân ái và quyết thắng”(1).
Năm ấy, Bác 58 tuổi, với cương vị Chủ tịch nước, Bác có thể dùng các đại từ nhân xưng khác nhưng Bác đã tự nhận mình là cháu! Chữcháu vừa cung kính vừa thân tình làm sao!
Với sự khiêm nhường vốn có của Người, Bác rất cẩn trọng trong việc dùng ngôn từ giao tiếp, xưng hô, đối thoại với mọi người, ngay cả với các thanh thiếu niên, nhi đồng. Trong kho tàng văn phẩm, trước tác của Bác, kể cả những bài nói, bức thư, bức điện thăm hỏi chan chứa tình cảm, hầu như không thấy Bác dùng hai chữ “ân cần”. (“Tôi ân cần…”, “Bác ân cần…”) với mọi người. (Chỉ có nhà báo và những người khác nói về Bác mới hay dùng hai chữ đó). Tuy không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu là Bác không muốn tỏ ra mình là bề trên, là nhà lãnh đạo đối xử với người lớp dưới. Thực ra với cương vị và tuổi tác, nhất là về cuối đời, Bác hoàn toàn có thể dùng hai chữ đó, nhưng Bác đã tránh. Những chữ Bác thường dùng nhất đối với mọi tầng lớp nhân dân, mọi người,… là chữ thân ái, thân mến, quý mến, thân thiết, yêu quý… Cũng vì vậy, khi nghe đồng bào ta, nhất là ở miền Nam với lòng kính yêu vô hạn đối với Bác, đã suy tôn Bác là “Cha già dân tộc”, Bác chân tình đáp lại: Bác là con của dân tộc, chứ làm cha dân tộc sao được, cho dù tuổi cao đến mấy!
Cứ như vậy, sự khiêm nhường của Bác thể hiện trong mọi lúc, mọi nơi, kể cả những tình huống tưởng như trái với lẽ thường.
Giữa lúc diễn ra cuộc gặp mặt tiễn chân đại sứ Mai Văn Bộ trước khi lên đường làm nhiệm vụ đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp (tháng 7-1967), Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng dự, thì có báo động máy bay Mỹ vào đánh phá Hà Nội. Các đồng chí bảo vệ yêu cầu Bác và những đồng chí đang có mặt vào hầm trú ẩn. Lẽ ra Bác phải là người vào hầm trước nhưng ngược lại, Bác yêu cầu đồng chí Mai Văn Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng, và các đồng chí khác, kể cả đồng chí bảo vệ Bác (tất nhiên là ít tuổi hơn Bác) vào hầm trước. Bác là người vào hầm sau cùng. Bác còn hài hước: “Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Các chú còn trẻ, cần vào hầm trú ẩn trước”(2). Một cử chỉ, một lời nói đầy tính nhân ái khiến mọi người vô cùng xúc động và cảm phục.
Phong cách khiêm nhường của Bác không chỉ được Người thể hiện, ứng xử trong đối nội, với các thành phần dân tộc, tôn giáo, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào ta mà trong quan hệ với bạn bè quốc tế, Bác cũng luôn tỏ sự lịch thiệp, khiêm nhường, giản dị. Tháng 2-1958 trong chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa Ấn Độ, với lòng ngưỡng mộ và kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại cuộc mít tinh trọng thể của nhân dân thủ đô Niu Đêli, ban tổ chức nước chủ nhà đã dành riêng cho Bác chiếc “ngai vàng” đẹp, sang trọng hơn những chiếc ghế khác và mời Người ngồi. Bác cảm ơn nhưng từ chối ngồi chiếc ghế đó. Người đề nghị được ngồi một chiếc ghế khác giống như của mọi người. Bác nói rõ: “Tôi muốn được bình đẳng với mọi người”(3).
Rõ ràng, từ những cử chỉ, ứng xử, phong cách như vậy đã toát lên nhân cách, tính cách, đạo đức của Bác. Đạo đức, phong cách ấy không phải là sự sao chép, bắt chước máy móc từ đâu mà là kết quả cả quá trình học tập, khổ luyện, bền bỉ tu dưỡng, xuất phát tự đáy lòng, từ tình cảm và trách nhiệm đối với dân, như Bác đã tự nhận: Bác là Chủ tịch của dân, chứ không phải ông vua hay vị tổng thống một nước tư bản giàu có. Đã là Chủ tịch của dân thì không thể có khoảng cách, hay sự đối lập về tư tưởng, đạo đức, phong cách, lối sống với quảng đại quần chúng. Uy tín, ảnh hưởng, sức lan tỏa của người lãnh đạo, lãnh tụ, cấp trên không phải bắt nguồn từ ngôi nhà ở, chiếc xe hơi hay căn phòng, những phương tiện làm việc cao sang, mà trước hết ở tự tâm hồn, tình cảm, đạo lý làm người, ở đời như Bác từng nói: Mọi của cải, tiền bạc khi con người chết là hết, có ai mang theo được đâu. Chỉ có tiếng thơm cần – kiệm – liêm – chính – chí công vô tư, danh dự, phẩm giá trong sáng, tốt đẹp mới để lại cho đời sự ngưỡng vọng, tôn vinh... -----------------------------
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.427. Bức thư này được đăng trên Báo Cứu quốc số 933 ngày 20-5-1948.
(2) Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương xuất bản năm 2007, tr.282.
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.35.
Tác giả bài viết: TRIỆU VŨ (*)
Nguồn tin: www.hcmcpv.org.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết