Tìm hiểu về nguồn gốc tư duy Hồ Chí Minh

Thứ hai - 10/02/2014 10:58 | Nguyễn Thanh Phong
Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam” (UNESCO). Bài viết này xin chỉ đề cập một góc của vấn đề: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh ở chặng đường đầu tiên của cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Phong cách tư duy đó phải chăng đã thể hiện như sau:
1. Đi học nhưng không đi thi, học từ Hán học sang Tây học
Thuở thiếu thời, Nguyễn Sinh Cung “bút nghiên” theo nghiệp nhà nhưng không “lều chõng” theo cử nghiệp. Không đi thi không phải do Nguyễn không đủ học lực hoặc không đủ tuổi dự thi các kỳ thi Hương vào năm Bính Ngọ (1906) và năm Kỷ Dậu (1909) mà do Nguyễn theo chí hướng của cha: “Quan trường là nô lệ trong phường nô lệ”. Nguyễn cũng không theo cụ Phan Bội Châu: đi thi và thi đỗ không phải để ra làm quan mà để có cái danh khoa bảng cho dễ bề hoạt động yêu nước. Đối với Nguyễn, đi học để có kiến thức, cả hai luồng Đông và Tây.
2. Không Đông du mà Tây du
Năm 1905, Nhật đánh thắng Nga hoàng. Lúc bấy giờ các dân tộc bị áp bức châu Á lấy làm hả dạ và tự hào vì đã có nước đồng văn đồng chủng giỏi hơn một nước Tây phương. Đáp ứng lời kêu gọi của Phan Bội Châu “Gương Nhật Bản, đất Á Đông/ Gương ta ta phải soi chung kẻo lầm” (Đề tỉnh quốc dân ca), phong trào Đông du sôi nổi khắp cả nước. Cụ Phan Bội Châu và bà Trần Thị Trâm (1860 – 1930) đến tận nhà vận động nhưng Nguyễn xin khước từ. Nguyễn đang tìm cách Tây du. Theo Nguyễn, cần phải đi đến tận sào huyệt của kẻ thù để tìm hiểu. Thời ấy như thế là Người đã “đi ngược” nhưng lịch sử đã chứng minh là “về xuôi”.
3. Tây du không phải để đi học văn hóa mà là để đi “vô sản hóa”
Tây du, Nguyễn đi qua nhiều nước. Nguyễn luôn tiếp xúc với tầng lớp dưới – không phải để tham quan mà là thực sự trở thành người lao động, tức là nói theo thời ấy là đi “vô sản hóa”. Sự việc này đã đưa lại cho Nguyễn một sự hiểu biết và một tình cảm hoàn toàn mới mẻ mà nếu đứng ngoài cuộc thì không thể cảm nhận đầy đủ được. Ở đây chúng ta nhận thấy có một sự gặp gỡ khá lý thú của những tư tưởng lớn. Trước đây, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đến năm Mác 30 tuổi, Ăngghen 28 tuổi, hai ông đưa ra kết luận: Lịch sử tất cả các xã hội có giai cấp cho đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Cũng vào tuổi 30, qua 10 năm kinh nghiệm, Nguyễn phát hiện ra chân lý: Ở đâu và bao giờ bọn tư bản cũng tàn ác, vô nhân đạo và xảo quyệt. Ở đâu giai cấp công nhân, nhân dân lao động sống tại các nước tư bản và các dân tộc thuộc địa cũng bị bóc lột áp bức dã man, họ đều là bạn của nhau và đều có một kẻ thù chung là bọn tư bản đế quốc.
4. Phải chủ động làm cách mạng ở thuộc địa, không trông chờ, ỷ lại cách mạng ở chính quốc
Vào những năm 1920, nhiều đảng cộng sản ở châu Âu đều có chung một nhận định: thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc sẽ giúp cho cách mạng ở các nước thuộc địa thắng lợi. Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VI từ tháng 7 đến tháng 9-1928 cũng xác nhận chiều hướng như vậy. Nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, khâu yếu nhất của nó không phải ở chính quốc mà ở các nước thuộc địa. Từ tháng 5-1921, trong bài Đông Dương đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5, Người đã viết: “Hàng trăm triệu nhân dân châu Á sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ (...), họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Tại Đại hội Tours ở Pháp (cuối năm 1924) cũng như tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (từ tháng 6 đến tháng 7-1924), Người đã thẳng thắn phê phán các đảng cộng sản Pháp và Anh là chưa thi hành một chủ trương thật tích cực trong vấn đề thuộc địa. Tất nhiên quan điểm này của Nguyễn không khỏi không bị phản bác. Nhưng lịch sử là người phán xét xác thực.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam không những là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước
Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc vai trò quyết định của đảng cộng sản đối với thắng lợi của cách mạng. Nhưng việc tạo lập nên đảng cộng sản ở Việt Nam, được Người tiến hành khác với các nước ở châu Âu ở mấy điểm sau:
- Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin được “thông tục hóa” (thể hiện ở cuốn Đường kách mệnh). Có thế mới phù hợp với trình độ tiếp thu của người nước mình.
- Bản thân Nguyễn Ái Quốc đã là người cộng sản nhưng Người không lập ngay ra đảng mà lại lập tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, trong đó có một nhóm nhỏ cộng sản làm nòng cốt. Làm như thế mới tránh được sự đột ngột về nhận thức dẫn đến sự phân hóa về tổ chức trong hàng ngũ những người yêu nước lúc bấy giờ.
- Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp không chỉ với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước để tạo lập nên Đảng. Ở một nước thuộc địa và trong thời đại mới, việc kết hợp như thế là cần thiết và có thể tiến hành được.
Cần thiết vì nếu chỉ kết hợp với phong trào công nhân thì chỉ mới có tổ chức đảng ở xí nghiệp, ở thành thị. Phải kết hợp với cả phong trào yêu nước mà chủ yếu là phong trào nông dân thì Đảng mới có mặt ở nông thôn, một địa bàn rộng lớn nhất với một lượng dân số đông đảo nhất đang nắm giữ một ngành kinh tế quan trọng bậc nhất.
Có thể được vì chủ nghĩa Lênin không chỉ giải thích mà còn cải tạo, chinh phục được con người lao động. Mặt khác, nhân dân lao động, nông dân nước ta rất giàu lòng yêu nước và đúng như Ăngghen đã nói: Những người yêu nước đặc biệt có thể tiếp thu được học thuyết của chúng tôi.
6. Đường lối cách mạng Việt Nam là sản phẩm của sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn Việt Nam đồng thời phù hợp với thời đại mới
Nguyễn Ái Quốc khẳng định: con đường cứu nước duy nhất đúng đắn là con đường cách mạng vô sản. Nhưng cách mạng vô sản diễn ra như thế nào? Thực tiễn mỗi nước một khác và có nhiều cách hiểu khác nhau nên cách làm cũng không giống nhau. Ở các nước mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển cao thì làm ngay cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở các nước mà chủ nghĩa tư bản chưa cao như ở nước Nga thì theo Lênin “không thể đổ hai đống rác cùng một lúc” (tư bản và phong kiến), nên phải làm cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới rồi sau “trở súng sang vai làm cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Còn ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chủ trương: phải giương cao và kết hợp hai ngọn cờ dân tộc độc lập và chủ nghĩa xã hội, phải qua hai giai đoạn cách mạng, phải giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của mỗi nước, phải tạo lập mỗi nước có một đảng lãnh đạo riêng.
Tác giả bài viết: PGS. HẢI SÂM – PHAN HỮU THỊNH
Nguồn tin: www.hcmcpv.org.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết