Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Thứ năm - 11/09/2014 22:42 | Nguyễn Thanh Phong
Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 09-02-2007, “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” của Ban Chấp hành Trung ương khóa X là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang với nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò, trách nhiệm đặc biệt.
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có tổng chiều dài bờ biển khoảng 3.260 km, phần diện tích biển nước ta chiếm 29% diện tích Biển Đông, rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền. Vùng biển nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ; hơn 50% số dân sống ở các tỉnh ven biển; ngư dân ta có truyền thống khai thác đánh bắt thủy sản trên biển. Từ đặc điểm biển, đảo nước ta được phân chia thành 3 vùng chính: Vùng Vịnh Bắc Bộ, vùng Biển Đông và vùng Biển Tây - Nam; trong đó, vùng Biển Đông có diện tích trên 500.000km2, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xuất phát từ đặc điểm địa lý và điều kiện khách quan, trở thành một quốc gia mạnh về biển là mục tiêu chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Khái lược pháp luật quốc tế về biển

Luật Biển quốc tế nhằm mục đích chủ yếu phân chia chủ quyền trên biển, việc sử dụng, khai thác biển, bảo vệ môi trường biển và hợp tác giữa các quốc gia trong các lĩnh vực này. Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật Biển được tổ chức tại Niu-Óoc (Mỹ), sau đó, Hội nghị tổ chức liên tiếp các phiên họp tại Ca-ra-cát (Vê-nê-zuê-la), Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ), đến ngày 10-12-1982 tại Vịnh Môn-tê-gô (Ja-mai-ca), mới kết thúc đàm phán với sự tham gia của hơn 160 nước và thông qua được Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) theo một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số. Công ước có hiệu lực từ ngày 16-11-1994. Đây là văn bản pháp luật quốc tế (gồm 17 phần, 320 điều, kèm theo 9 phụ lục và 4 nghị quyết), được coi như hiến pháp trên biển, có vai trò quan trọng chỉ sau Hiến chương Liên hợp quốc. Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Công ước UNCLOS 1982 ngày 23-6-1994 và nộp lưu chiểu Liên hợp quốc ngày 25-7-1994.

Nội dung các điều khoản quan trọng nhất của Công ước UNCLOS 1982 quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển, đảo và các chế độ quá cảnh, các vùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phán thềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học và dàn xếp các tranh chấp. Công ước đặt ra giới hạn cho nhiều khu vực, tính từ một đường cơ sở được định nghĩa kỹ càng, biểu hiện có các khu vực dưới đây:

Vùng nội thủy: Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền). Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.

Vùng lãnh hải: Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền “qua lại không gây hại” mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, sử dụng vũ khí và do thám không được xếp vào dạng “không gây hại”. Nước chủ quyền có thể tạm thời cấm việc “qua lại không gây hại” này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.

Vùng nước quần đảo: Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo và vẽ đường cơ sở giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, bảo đảm các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.

Vùng tiếp giáp lãnh hải: Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp.

Vùng đặc quyền kinh tế: Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên. Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn đề quan trọng. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.

Thềm lục địa: Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa, hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn. Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.

Công ước UNCLOS 1982 còn thiết lập các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học trên biển. Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện qua Ủy ban đáy biển quốc tế. Các nước không có biển được quyền có đường ra biển mà không bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó.

Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Quan điểm của Đảng “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” nêu lên những định hướng chiến lược cần được tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc và vận dụng cụ thể phù hợp với tình mới bao gồm:

- Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển của Tổ quốc.

- Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng - an ninh để quản lý, bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển; tập trung xây dựng thế trận quốc phòng an ninh gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên biển; xây dựng lực lượng vũ trang, trước hết là lực lượng hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng và dân quân, tự vệ biển, đủ sức làm nòng cốt trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển quốc gia.

- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực từ bên ngoài, thông qua hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế; trong đó nguồn lực trong nước là nhân tố quyết định, thực hiện vừa hợp tác vừa đấu tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo để phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên biển.

- Đối với các tranh chấp trên Biển Đông, chủ trương nhất quán của Việt Nam là các bên tôn trọng nguyên trạng, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước UNCLOS 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển.

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP, ngày 30-5-2007 và Chương trình hành động của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 137/2007/QĐ-TTg, ngày 21-8-2007, phê duyệt Đề án tổ chức thông tin phục vụ công tác phòng, chống thiên tai trên biển; Quyết định số 1041/QĐ-TTg, ngày 22-7-2009, phê duyệt Đề án đảm bảo mạng lưới thông tin biển, đảo; Quyết định số 373/QĐ-TTG, ngày 23-3-2010, phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam... Các cơ quan ở Trung ương và địa phương, cùng với các lực lượng vũ trang đã chủ động xây dựng kế hoạch, trực tiếp triển khai chương trình hành động của Chính phủ và đã đạt được những kết quả quan trọng.

Lực lượng vũ trang trong thực hiện quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Để góp phần thực hiện tốt quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về chiến lược biển, trong tình hình mới, lực lượng vũ trang với nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần thực hiện có hiệu quả một số nội dung chủ yếu sau: 

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và tình hình bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước ta hiện nay.

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng nòng cốt trong công tác tuyên truyền về biển, đảo, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 mà Đảng, Nhà nước ta đã xác định. Yêu cầu đối với công tác tuyên truyền cần làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ và người dân nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước; trên cơ sở đó để mỗi người, mỗi tổ chức luôn nêu cao trách nhiệm, chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Nội dung công tác tuyên truyền trước hết cần làm rõ những thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện chiến lược biển. Tuyên truyền, phổ biến những kiến thức pháp luật quốc tế và trong nước về biển, đảo; những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo, quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp trên biển thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và trong nước; đồng thời, nâng cao lòng yêu nước, tạo sự đồng thuận xã hội, kiên quyết đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, củng cố tình hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các quốc gia có chung Biển Đông.

Công tác tuyên truyền cần chú trọng giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của từng ngành, địa phương và cả nước; vai trò của các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển kinh tế biển, đảo. Tuyên truyền về công tác dự báo, phòng chống thiên tai; cứu hộ, cứu nạn trên biển; bảo vệ môi trường biển; đấu tranh chống các hiện tượng vi phạm pháp luật trên biển, đảo. Đặc biệt phải vạch rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực bành trướng, thù địch xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Tăng cường tuyên truyền về cuộc sống lao động và sẵn sàng chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang ở vùng hải đảo; nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của các tầng lớp nhân dân đối với lực lượng đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập quốc tế ở nước ta, công tác tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần được mở rộng và đẩy mạnh cả ở phạm vi ngoài nước, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế đối với Việt Nam về chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Kiên quyết đấu tranh không nhân nhượng trước những hành vi xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền đối với vùng biển, đảo Tổ quốc của các thế lực bành trướng nước ngoài. Cần phát huy hiệu quả các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể,… nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân về quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo và tình hình các thế lực bành trướng đang tìm cách độc chiếm Biển Đông hiện nay.

Hai là, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với tiềm lực, thế trận an ninh nhân dân trên vùng biển, đảo với lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt, được xây dựng theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”.

Quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển kết hợp với tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vấn đề cấp thiết đặt ra cần xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với tiềm lực, thế trận an ninh nhân dân trên biển, đảo một cách liên hoàn, vững chắc, bảo đảm phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc. Với tính chất đặc thù về địa hình, hệ thống đảo, quần đảo nước ta có lợi thế trong bố trí thế trận phòng thủ liên hoàn giữa biển với bờ, tạo cơ sở thuận lợi cho việc làm chủ vùng biển. Do vậy, lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần có sự phối hợp chặt chẽ trong thực hiện các chương trình, dự án xây dựng tuyến đảo và khu vực ven biển với mục đích tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, bố trí lực lượng vừa làm nhiệm vụ bảo vệ, vừa kết hợp làm kinh tế, dịch vụ biển, dịch vụ hậu cần theo một cơ chế quản lý riêng. Để giữ vững chủ quyền biển, đảo, phải chú trọng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân liên hoàn bờ - biển - đảo, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ biển, đảo trong mọi tình huống, kể cả trong chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao trên biển.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; trong tình hình mới cần tập trung đầu tư để đẩy nhanh hiện đại hóa đối với lực lượng Hải quân nhân dân, Cảnh sát biển, thông tin liên lạc, lực lượng cảnh sát cơ động, Kiểm ngư Việt Nam… phát triển nhanh về số lượng, chất lượng, chủng loại, có khả năng cơ động cao, phối hợp hiệp đồng với nhau chặt chẽ, đủ sức phát hiện, kiểm soát mọi hành động vi phạm trên các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng - an ninh, ngăn chặn các hành động cướp biển, xâm phạm lãnh hải, gây bạo loạn ảnh hưởng đến an ninh quốc gia; hướng dẫn, khắc phục hậu quả do biến đổi khí hậu, cứu hộ, cứu nạn…

Đẩy mạnh củng cố tổ chức, phát triển lực lượng dân quân, tự vệ và dân phòng ở vùng biển có số lượng hợp lý, có chất lượng cao, trước hết là chất lượng chính trị; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng đó; chú trọng nâng cao khả năng hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong từng khu vực phòng thủ địa phương, liên hoàn bờ - biển - đảo. Chuẩn bị tốt các phương án tác chiến cả về quân sự và an ninh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành, địa phương với các lực lượng vũ trang trong luyện tập thành thạo các phương án tác chiến, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu nham hiểm và hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, bảo vệ vững chắc lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Ba là, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh. Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển phấn đấu có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.

Lợi ích quốc gia trên biển ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nếu chúng ta không phát triển được kinh tế biển thì nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh là rất hiện hữu; đồng thời cũng gặp nhiều khó khăn trong việc giữ vững chủ quyền và các quyền lợi quốc gia trên biển, đảo. Vì vậy, nhiệm vụ của quốc phòng - an ninh là phải giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải; phát huy sức mạnh tổng hợp trong quản lý bảo vệ vùng biển; phát triển kinh tế biển phải gắn liền với bảo vệ biển; kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh bảo vệ biển. Trách nhiệm của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải đặt trọng tâm xây dựng quốc phòng - an ninh trên biển, đảo ngày càng vững mạnh, có bước phát triển mới về tiềm lực và sức mạnh, nhất là lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên biển, đủ sức ngăn chặn và làm thất bại mọi mưu đồ, hành động xâm phạm vùng biển, đảo nước ta dưới mọi hình thức, mọi quy mô./.

Đại tá, ThS. Nguyễn Đức ThắngViện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự (Bộ Quốc phòng)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN - LÝ LUẬN

Đăng ký nhận tin

mạng xã hội

DANH MỤC

Truy cập

  • Đang truy cập: 25
  • Hôm nay: 9731
  • Tháng hiện tại: 175906
  • Tổng lượt truy cập: 5715968