Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12.2015

Thứ hai - 28/12/2015 07:02 | Nguyễn Thanh Phong
Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12.2015

Tài liệu sinh hoạt chi bộ tháng 12.2015

TÀI LIỆU PHỤC VỤ SINH HOẠT CHI BỘ THÁNG 12 NĂM 2015
TIN TRONG NƯỚC.
1. Kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII
Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII được tiến hành từ ngày 20/10; dự kiến kết thúc vào ngày 27/11/2015, xem xét, quyết định một số nội dung quan trọng sau:
Thứ nhất, xem xét, thông qua 18 dự án luật, nhiều nghị quyết; cho ý kiến về 8 dự án luật khác, nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, củng cố quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, bộ máy tổ chức và hoạt động của Quốc hội... theo tinh thần của Hiến pháp.
Thứ hai, xem xét các báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2015, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2016-2020 và ban hành nghị quyết của Quốc hội về các nội dung này; đồng thời xem xét, cho ý kiến về các báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020.
Thứ ba, xem xét các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các báo cáo của Chính phủ về công tác thi hành án; công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác phòng, chống tham nhũng năm 2015; tiến hành giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014; xem xét Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 9; xem xét báo cáo của Chính phủ, các bộ trưởng, trưởng ngành về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về giám sát, chất vấn và trả lời chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến nay; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.
Thứ tư, quyết định ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; thành lập Hội đồng Bầu cử quốc gia, bầu Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia và phê chuẩn Phó Chủ tịch, Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia; bầu Tổng Thư ký Quốc hội.
Thứ năm, thảo luận, góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và xem xét, quyết định một số vấn đề quan trọng khác.
2. Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ngày 20/10/2015, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 49-CT/TW về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân các cấp thực hiện tốt một số nội dung quan trọng sau đây:
(1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xác định rõ công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ rất quan trọng, thường xuyên, là trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Người đứng đầu cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp phải thường xuyên đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân. Các cơ quan thông tin đại chúng, chủ động định hướng dư luận xã hội và đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Mỗi cấp ủy từ tỉnh đến huyện, xã phải phân công một đồng chí ủy viên ban thường vụ trực tiếp phụ trách công tác dân vận.
(2) Tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước; rà soát, ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc. Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi những bất cập của hệ thống chính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội của từng vùng, từng dân tộc.
Cơ quan nhà nước các cấp phải phân công lãnh đạo, phụ trách công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu số; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách dân tộc; đề cao trách nhiệm công tác dân vận của cán bộ chính quyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn chủ động phối hợp chặt chẽ với địa phương làm tốt công tác dân vận.
(3) Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, phản biện và chủ động tham gia xây dựng các chính sách có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số trước khi ban hành. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội với chính quyền, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số với những nội dung cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Đề cao và phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào. Xây dựng, bổ sung quy ước, hương ước của xã, thôn, bản, buôn, ấp để xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ, văn minh phù hợp với từng địa phương, cơ sở.
(4) Phối hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số với công tác đối ngoại nhân dân trong bảo vệ biên giới; đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, quan hệ thân tộc, đồng tộc của đồng bào vùng giáp biên giới của nước ta với các nước láng giềng, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Tăng cường giao lưu hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa giữa nhân dân hai bên biên giới; thăm hỏi, chúc mừng nhân dịp lễ, Tết, các sự kiện quan trọng của mỗi bên; tổ chức kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới; đấu tranh phòng, chống tội phạm, buôn lậu qua biên giới; nâng cao nhận thức của đồng bào vùng dân tộc thiểu số về chủ quyền lãnh thổ, ý thức bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Kịp thời phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và kích động gây chia rẽ dân tộc, chống Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân.
(5) Xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ dân vận: Kiện toàn ban dân vận các cấp đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng theo các quy định. Bảo đảm tỷ lệ hợp lý cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cấp ủy, tổ chức đảng, mặt trận, đoàn thể, nhất là cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Các bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội liên quan nhiều đến công tác dân tộc cần tổ chức bộ phận và cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc; lựa chọn và bố trí ít nhất có một cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số. Ban hành chính sách, chế độ đặc thù đối với cán bộ ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đổi mới phương thức công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX
Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX với chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” dự kiến tổ chức tháng 12/2015. Tham dự Đại hội có khoảng 2.000 đại biểu (trong đó, đại biểu chính thức: 1.800, đại biểu mời: 200). Đại hội sẽ tập trung đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của các phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng giai đoạn 2011 - 2015; đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng giai đoạn 2016 - 2020. Biểu dương kết quả của các phong trào thi đua yêu nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở các ngành, các cấp, các lĩnh vực trong 5 năm qua. Biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân, anh hùng, chiến sĩ thi đua và các gương điển hình tiên tiến, nhân tố tiêu biểu trong toàn quốc; qua đó, tiếp tục khơi dậy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực mới góp phần tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Phát động phong trào thi đua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, gắn với đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo chỉ thị của Bộ Chính trị và Luật Thi đua - Khen thưởng. Nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là phong trào “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”.
Ý nghĩa của Đại hội:
Một là, trên cơ sở tổng kết phong trào thi đua yêu nước, công tác khen thưởng trong 5 năm (2011 - 2015), Đại hội rút ra bài học kinh nghiệm về nội dung, hình thức, phương thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả; về kinh nghiệm xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước, công tác khen thưởng giai đoạn tiếp theo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hai là, khẳng định những thành tựu của gần 30 năm đổi mới toàn diện đất nước; những kết quả của phong trào thi đua và công tác khen thưởng trong 5 năm qua, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và khơi dậy sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân; tiếp tục bồi dưỡng lòng yêu nước, ý chí quật cường, lòng tự hào dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ba là, cổ vũ sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên động lực mới nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa đất nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Bốn là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
 
4. Tiếp tục rà soát các chính sách ưu đãi đối với người có công
Thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ, lần đầu tiên kể từ năm 1954, Việt Nam tiến hành tổng rà soát chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Qua hai năm thực hiện, Chương trình tổng rà soát đã triển khai đúng tiến độ, đầy đủ, toàn diện chính sách của Nhà nước về người có công. Trên cơ sở đó sớm khắc phục những hạn chế, kịp thời bổ sung, sửa đổi chính sách để giải quyết khó khăn của một bộ phận người có công trong xã hội, nhất là đối với những người có công ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đến nay, số đối tượng người có công hưởng đúng, hưởng đủ chính sách là 1.982.769 người (chiếm 95,75%). Số đối tượng hưởng chưa đầy đủ chính sách là 86.201 người (chiếm 4,16%), trong đó đã giải quyết 54.299 trường hợp. Số đối tượng hưởng sai chính sách là 1.872 người (chiếm 0,09%) chủ yếu tập trung vào chênh lệch tỷ lệ thương tật, phản ánh hưởng trợ cấp không đúng hoặc diện đã hết tuổi hưởng trợ cấp…
Có 63.768 trường hợp kê khai chưa được xác nhận người có công (diện tồn đọng), trong đó: Đề nghị xác nhận liệt sĩ 2.020 trường hợp; Bà mẹ Việt Nam anh hùng: 1946 trường hợp; xác nhận thương binh: 7.871 trường hợp; xác nhận bệnh binh: 855 trường hợp; xác nhận hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: 16.295 trường hợp; kê khai lập hồ sơ để hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với cựu thanh niên xung phong theo Quyết định số 40/2012/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ là 16.466 trường hợp; và số còn lại là những trường hợp kê khai đề nghị hưởng các chế độ khác.
Tổng hợp báo cáo từ các địa phương, hiện cả nước có 71.527 trường hợp kê khai đề nghị giải quyết chế độ người có công. Trong đó đã giải quyết 9.735 trường hợp; các Sở Lao động-Thương binh và Xã hội đang tiếp nhận và hướng dẫn giải quyết 11.473 trường hợp; 23.232 trường hợp chuyển các ngành có liên quan hướng dẫn theo thẩm quyền; 27.087 trường hợp không còn giấy tờ chứng minh để xác nhận và lập hồ sơ hoặc đối tượng đã chết (trong đó, 3.462 trường hợp không thuộc nhóm đối tượng được rà soát theo Chỉ thị số 23/CT-TTg).
Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 23/CT-TTg yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung giải quyết những vấn đề tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Đối với những người có công và thân nhân của người có công chưa được hưởng đầy đủ các chế độ chính sách ưu đãi, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên cơ sở rà soát từng trường hợp cụ thể, chỉ đạo giải quyết bổ sung những chính sách mà người có công chưa được hưởng. Những trường hợp qua rà soát còn nghi vấn là hưởng sai hoặc có đơn thư phản ánh là hưởng sai chế độ đối với người có công do lập hồ sơ không đúng thì đề nghị đối tượng thuộc trách nhiệm ngành nào lập hồ sơ ban đầu đề nghị xác nhận người có công, do cơ quan đó chịu trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, xác minh, kết luận cụ thể. Đối với những trường hợp qua rà soát có kê khai chưa được xác nhận là người có công, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Nội vụ hướng dẫn, đôn đốc việc lập hồ sơ đề nghị phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hồ sơ giải quyết chế độ đối với cựu thanh niên xung phong. Những trường hợp do chưa biết chính sách hoặc do chậm trễ nên chưa được xem xét xác nhận là người có công, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan chức năng rà soát cụ thể, hướng dẫn thủ tục và tiến hành các bước theo đúng quy định hiện hành; những trường hợp chậm trễ do khâu làm thủ tục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Lao động-Thương binh và Xã hội đôn đốc và sớm xem xét công nhận người có công.
5. Quy định công thức tính lương hưu mới trong Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi quy định, lao động nam nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi, mỗi năm tăng thêm một năm cho đến khi 20 năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 45% (năm 2018 là 16 năm; năm 2019 là 17 năm; năm 2020 là 18 năm; năm 2021 là 19 năm và từ năm 2022 trở đi là 20 năm).
Đối với nữ, 15 năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 45%, và sau đó cả nam và nữ đều tính thêm 2% cho mỗi năm, mức tối đa bằng 75%.
Như vậy, để đạt được mức hưởng tối đa là 75%, nam phải đóng bảo hiểm xã hội 35 năm và nữ phải đóng bảo hiểm xã hội 30 năm.
Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi cũng tăng tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.
Quy định cụ thể về thời điểm hưởng lương hưu: Đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong quyết định nghỉ việc do người sử dụng lao động lập khi người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.
Đối với người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời điểm hưởng lương hưu được tính bắt đầu từ tháng liền kề sau tháng người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định.
Mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính lương hưu đối với người thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi quy định lộ trình áp dụng cách tính lương bình quân theo năm bước giai đoạn để tiến tới thực hiện tính bình quân chung của cả quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo đảm bình đẳng giữa khu vực trong và ngoài nhà nước. Cụ thể: Tính bình quân của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước năm 1995; tính bình quân của sáu năm cuối đối với tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian từ ngày 01/01/1995 đến 31/12/2000; tính bình quân của tám năm cuối đối với người tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian từ 01/01/2001 đến 31/12/2006 (như quy định hiện hành); tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi có hiệu lực thi hành đến 31/12/2019 thì tính bình quân của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2024, tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
TIN THẾ GIỚI
1. Thức đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam và Trung Quốc
Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước Việt Nam ngày 05 và 06/11/2015. Đây là chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Trung Quốc.
Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hội kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, góp phần vào việc củng cố tình hữu nghị truyền thống, làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực:
Một là, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác giữa hai Đảng và làm sâu sắc các hoạt động giao lưu hợp tác giữa các tổ chức Đảng ở Trung ương và địa phương, nhất là các địa phương có chung đường biên giới. Tích cực thúc đẩy giao lưu hợp tác hữu nghị giữa Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân hai nước.
Hai là, thực hiện tốt Nghị định thư hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước, duy trì trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo hai bộ và tăng cường giao lưu giữa các vụ/cục.
Ba là, duy trì trao đổi cấp cao giữa hai quân đội, sử dụng tốt cơ chế Đối thoại chiến lược quốc phòng, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung và đường dây thông tin điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa Cảnh sát biển hai nước, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam với Cục Cảnh sát biển Trung Quốc.
Bốn là, tăng cường kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước; thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ “hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “một vành đai, một con đường”; tăng cường hợp tác về năng lực sản xuất trên các lĩnh vực như vật liệu xây dựng, công nghiệp phụ trợ, máy móc thiết bị, điện lực, năng lượng tái tạo v.v..
Năm là, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, giáo dục, văn hóa, du lịch và báo chí v.v. Sử dụng tốt cơ chế Ủy ban liên hợp về hợp tác khoa học công nghệ giữa hai nước, tích cực thúc đẩy hợp tác về chuyển giao công nghệ, giao lưu giữa các nhà khoa học, trao đổi về việc xây dựng phòng thí nghiệm chung.
Hai bên đã trao đổi chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh nghiêm túc tuân thủ những nhận thức chung quan trọng đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”, sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt - Trung, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài.
Hai bên nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ và có hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và quan hệ Việt - Trung.
Hai bên đã ký các văn kiện hợp tác: “Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016 - 2020”, “Hiệp định về tàu thuyền đi lại tại khu vực tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”... và nhiều văn kiện hợp tác khác.
2. Hội thảo lý luận lần hai giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp
Thực hiện thỏa thuận giữa hai Đảng, Hội thảo lý luận lần thứ hai giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp với chủ đề “Hội nhập quốc tế và phát triển bền vững” tổ chức trong hai ngày 28 và 29/10/2015, tại Hà Nội. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương và đồng chí Pi-e Lô-răng, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp đồng chủ trì Hội thảo.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã trao đổi, phân tích, đánh giá các kinh nghiệm lý luận và thực tiễn trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam và Pháp. Hội thảo góp phần bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống quan điểm lý luận phục vụ công tác hoạch định đường lối phát triển nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng của mỗi đảng trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế với mục tiêu phát triển bền vững. Qua đây, hai Đảng sẽ thu được những kinh nghiệm quý trong việc tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương, chính sách hội nhập quốc tế. Hội thảo còn có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc củng cố quan hệ hữu nghị và đoàn kết truyền thống giữa Việt Nam - Pháp.
Thay mặt Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, đồng chí Bí thư toàn quốc Pi-e Lô-răng phát biểu đề cao tính chất đặc biệt của mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Việt Nam; đánh giá cao việc hai Đảng duy trì cơ chế Hội thảo lý luận như một cầu nối để trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin và tăng cường hợp tác. Hội thảo được tổ chức vào thời điểm rất có ý nghĩa: Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ 12 và Đảng Cộng sản Pháp chuẩn bị tổ chức Đại hội lần 37 trong năm 2016.
3. Quan hệ Việt Nam với các nước
- Tổng thống Cộng hòa Ai-xơ-len Ô-la-phua Rác-na Grim-xơn thăm cấp Nhà nước Việt Nam từ ngày 03 đến 06/11/2015. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn các cấp; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại - đầu tư, giáo dục- đào tạo, năng lượng và môi trường; hỗ trợ doanh nghiệp hai nước tìm hiểu cơ hội kinh doanh và kết nối. Về vấn đề Biển Đông, hai bên chia sẻ quan ngại về những diễn biến gần đây trên Biển Đông, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc và nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như việc các bên liên quan cần sớm đạt thỏa thuận về Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có tính chất ràng buộc, coi đây là phương thức hữu hiệu để bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không và giao thương tại Biển Đông.
- Tổng thống Cộng hòa I-ta-li-a S.Mát-ta-ren-la thăm cấp nhà nước Việt Nam từ ngày 06 đến 08/11/2015. Hai bên nhất trí các biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác trong thời gian tới, trong đó chú trọng trao đổi, phát huy mọi hình thức hợp tác ở cấp Chính phủ cũng như các địa phương, triển khai hiệu quả kế hoạch hành động 2015-2016; phát huy vai trò của các cơ chế đối thoại, Ủy ban hỗn hợp và tăng cường khuyến khích các doanh nghiệp kết nối, mở rộng hợp tác... Về vấn đề khu vực, hai bên đã trao đổi về tình hình gia tăng các hoạt động tôn tạo bãi đá, gây bất ổn cho hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Tổng thống I-ta-li-a khẳng định ủng hộ lập trường của Việt Nam giải quyết các bất đồng bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, duy trì tự do hàng hải, hàng không và bảo đảm an toàn, an ninh khu vực. Hai bên đã ký một số văn kiện hợp tác quan trọng như: Kế hoạch hành động triển khai quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và I-ta-li-a giai đoạn 2015-2016, Hiệp định hợp tác và tương trợ hành chính trong lĩnh vực hải quan giữa hai nước.
4. Một số tình hình thế giới đáng chú ý thời gian gần đây
- Về việc Tòa Trọng tài thường trực (PCA) thuộc Liên Hợp quốc ra Phán quyết vụ Phi-lip-pin kiện Trung Quốc liên quan các đảo chiếm đóng trái phép ở Biển Đông: Ngày 29/10/2015, Tòa trọng tài thường trực (PCA) thuộc Liên Hợp quốc ra Phán quyết: Qua xem xét đơn kiện của Phi-lip-pin, PCA bác bỏ luận cứ của Trung Quốc cho rằng vụ việc không thuộc quyền tài phán của PCA, vì tranh chấp trên thực tế là về vấn đề chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông. PCA cho rằng, vụ kiện phản ánh tranh chấp giữa hai nước liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS); và vấn đề này thuộc thẩm quyền của PCA. Ngày 30/10/2015, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố, PCA không có thẩm quyền xử lý vụ kiện và tiếp tục khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo tại Biển Đông cũng như các quyền lợi của Trung Quốc hình thành trong lịch sử tại Biển Đông. Về vụ việc này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là quốc gia ven biển ở Biển Đông và thành viên Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, Việt Nam có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định phù hợp với Công ước. Liên quan đến vụ kiện của Philippin, Việt Nam đã nhiều lần thể hiện quan điểm của mình, đặc biệt là trong Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Tòa trọng tài ngày 05/12/2014. Việt Nam sẽ tiếp tục theo dõi sát tiến trình tiếp theo của vụ kiện và bảo lưu quyền sử dụng mọi biện pháp hòa bình phù hợp và cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông.
- Ngày 04/11/2015, Tòa phúc thẩm Cam-pu-chia một lần nữa bác đề nghị nộp tiền bảo lãnh để được tại ngoại của Thượng nghị sĩ Hong Sokhua, thuộc đảng Cứu nguy Dân tộc Cam-pu-chia (CNRP) đối lập, người đang bị tạm giam sau khi đăng tải trên trang facebook cá nhân thông tin xuyên tạc Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác Cam-pu-chia - Việt Nam, được ký vào năm 1979. Trước đó, ngày 02/9 và ngày 17/9/2015, Tòa phúc thẩm Cam-pu-chia đã bác đơn xin nộp tiền bảo lãnh để được tại ngoại của ông Hong Sokhua với lý do nhằm ngăn chặn việc tái phạm tội, bảo đảm an ninh và phục vụ quá trình điều tra vụ việc liên quan đến các tội trạng của Thượng nghị sĩ Hong Sokhua. Trên trang facebook cá nhân, ông Hong Sokhua đăng tải thông tin xuyên tạc Điều 4 của Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác Cam-pu-chia - Việt Nam, được ký vào năm 1979 là “Hai bên sẽ ký Hiệp ước để xóa bỏ biên giới giữa hai nước”. Trên thực tế, Điều 4 của Hiệp ước nêu rõ: “Hai bên sẽ đàm phán để ký hiệp ước dựa trên cơ sở đường biên giới hiện tại với quyết tâm xây dựng đường biên giới này trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, lâu dài của cả hai nước”.
5. Về việc Mỹ đưa tàu tuần tra ở khu vực Trường Sa                      
Ngày 27/10/2015, Hải quân Mỹ điều tàu khu trục mang tên lửa USS Lassen tới tuần tra trong vùng biển gần bãi đá Subi và Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nơi Trung Quốc tiến hành hoạt động nạo vét, bồi đắp trái phép biến các bãi đá này thành các đảo nhân tạo, nhằm một số mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất, Mỹ muốn thể hiện trách nhiệm nước lớn đối với vấn đề chung của thế giới - bảo đảm tự do hàng hải.
Theo Điều 87 (Tự do trên biển) của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Mỹ có lợi ích cơ bản trong việc duy trì sự ổn định và quyền tự do “đi qua vô hại” trên Biển Đông, đặc biệt là hành lang giao thông qua eo biển Ma-lắc-ca tới Đông Bắc Á và Mỹ. Nếu Trung Quốc giành được quyền kiểm soát toàn bộ Biển Đông thì đường vận chuyển hàng hoá từ châu Á, châu Phi tới lãnh thổ phía Tây của Mỹ rất dễ bị cắt đứt, đồng thời gây trở ngại cho các hoạt động quân sự, hàng hải khác của Mỹ và các nước đồng minh. Trước việc Mỹ đưa tàu khu trục tuần tra ở khu vực Trường Sa, nhiều người đã ảo tưởng cho rằng, hành động của Mỹ là ủng hộ Việt Nam bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và rằng Việt Nam cần phải dựa vào Mỹ để chống lại các hành động của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc Mỹ đưa tàu khu trục tuần tra ở khu vực Trường Sa trước hết là vì lợi ích của Mỹ, chứ không phải để giúp các nước khác bảo vệ chủ quyền, đồng thời Mỹ muốn thể hiện là một nước lớn, có trách nhiệm bảo vệ quyền đi lại tự do trên biển.
Thứ hai, thuyết phục Quốc hội Mỹ tăng ngân sách cho chiến lược “tái cân bằng” ở châu Á - Thái Bình Dương.
Sau 6 năm cầm quyền, Chính quyền Ô-ba-ma đã và đang nỗ lực hiện thực hóa chiến lược “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chiến lược này của Mỹ đang gặp phải một số khó khăn, trong đó có khó khăn về tài chính do phải tiến hành cắt giảm chi tiêu quân sự (hơn 1.000 tỉ USD). Bên cạnh đó, một số nhà lập pháp Mỹ yêu cầu Bộ Quốc phòng làm rõ nội hàm của Chiến lược trước khi họ đưa ra quyết định chi ngân sách. Việc Trung Quốc gần đây có nhiều hành động gây hấn với thái độ cứng rắn hơn trên Biển Hoa Đông và Biển Đông là cơ hội để Bộ Quốc phòng Mỹ điều trần và hối thúc Quốc hội phê duyệt kế hoạch chi ngân sách cho chiến lược này.
Thứ ba, thể hiện cam kết với các nước đồng minh
Khi thực hiện chiến lược “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã cam kết tăng cường hợp tác, giúp các nước đồng minh trong khu vực. Tuy nhiên, Mỹ chưa đạt được kết quả như mong muốn nhất là ở khu vực Đông Nam Á, nhiều nước ngày càng có xu hướng hoài nghi về khả năng thực hiện cam kết của Mỹ. Do vậy, sự xuất hiện và hoạt động tuần tra của tàu khu trục mang tên lửa USS Lassen ở Trường Sa và tàu sân bay USS Ronald Reagan ở Nhật Bản, Mỹ muốn làm yên lòng các nước đồng minh ở khu vực.
Thứ tư, răn đe quân sự đối với Trung Quốc
Biển Đông nằm trong phạm vi hoạt động của Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ, là môi trường tác chiến rất thuận lợi cho hải quân và không quân Mỹ khi can thiệp vào eo biển Đài Loan và các điểm nóng trong khu vực. Do vậy, việc giành và giữ quyền khống chế Biển Đông rất quan trọng đối với việc duy trì sức mạnh quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á cũng như Đông Bắc Á.
Mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ: Xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở Trường Sa (1.170 ha tính đến tháng 6/2015); mở rộng và lắp đặt nhiều thiết bị quân sự ở Hoàng Sa; thường xuyên tổ chức các cuộc diễn tập quy mô lớn trên Biển Đông nhằm phô trương sức mạnh quân sự… ảnh hưởng đến các lợi ích chính trị, kinh tế, quân sự của Mỹ trong khu vực. Vì vậy, đây được coi là một động thái quân sự mà Mỹ nhằm răn đe Trung Quốc.
VĂN BẢN MỚI
Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, gồm 10 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2015. Một số nội dung chủ yếu của Quyết định:
- Đối tượng áp dụng: Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế.
- Điều kiện áp dụng: Người được Ủy ban hành chính hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền huy động, quản lý tập trung, được giao làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu cho các đơn vị Quân đội hoặc phục vụ các chiến trường, trong thời gian và địa bàn như sau: a) Dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp từ tháng 9/1945 đến ngày 20/7/1954; tham gia kháng chiến chống Mỹ từ sau ngày 20/7/1954 đến ngày 30/4/1975. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi cả nước và ở Lào, Campuchia; b) Dân công hỏa tuyến tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam từ tháng 5/1975 đến ngày 07/01/1979, ở biên giới phía Bắc từ tháng 02/1979 đến tháng 12/1988, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào từ tháng 5/1975 đến ngày 31/12/1988, ở Campuchia từ tháng 01/1979 đến ngày 31/8/1989. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là các huyện biên giới, các huyện tiếp giáp với huyện biên giới có yêu cầu phục vụ, bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu; c) Đối với một số địa bàn đặc biệt, thời gian tham gia của dân công hỏa tuyến có thể được tính sớm hơn hoặc muộn hơn so với thời gian nêu trên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
- Chế độ, chính sách được hưởng: (1) Chế độ trợ cấp một lần: Mức trợ cấp một lần được ấn định theo các mốc thời gian thực tế trực tiếp tham gia dân công hỏa tuyến (trường hợp có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến ở các đợt khác nhau hoặc có gián đoạn thì được cộng dồn), cụ thể như sau: a) Dưới 01 năm, mức trợ cấp bằng 2.000.000 đồng; b) Đủ 01 năm đến dưới 02 năm, mức trợ cấp bằng 2.700.000 đồng; c) Từ đủ 02 năm trở lên, mức trợ cấp bằng 3.500.000 đồng. Người đã từ trần, một trong những thân nhân sau đây của người từ trần được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo mức thống nhất tương ứng nêu trên: Vợ hoặc chồng; bố đẻ, mẹ đẻ; con đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp. (2) Chế độ bảo hiểm y tế: Người chưa được hưởng chế độ bảo hiểm y tế thì được hưởng chế độ bảo hiểm y tế tương tự như đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi, bổ sung năm 2014). (3) Chế độ trợ cấp mai táng phí: Khi từ trần, người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng phí theo mức quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. (4) Ghi nhận thời gian tham gia dân công hỏa tuyến: Được cấp “Giấy chứng nhận” tham gia dân công hỏa tuyến.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN - LÝ LUẬN

Đăng ký nhận tin

mạng xã hội

DANH MỤC

Truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 8264
  • Tháng hiện tại: 162044
  • Tổng lượt truy cập: 5702106