Hiệp định Paris - Thắng lợi có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Chủ nhật - 09/02/2014 23:38 | Nguyễn Thanh Phong
Ngày 27-1-1973, bốn bên cùng ký vào bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tức Hiệp định Paris, là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Nội dung chủ yếu của Hiệp định như sau:
a. Mỹ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam (Điều 4).
b. Mỹ chấm dứt chiến sự ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động quân sự chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới; chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, cảng, sông ngòi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Điều 2).
c. Mỹ cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam (Điều 4).
d. Mỹ sẽ rút hết quân đội và nhân viên quân sự, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, dụng cụ chiến tranh khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày (Điều 5).
e. Sẽ thực hiện ngừng bắn tại chỗ. Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không, trên biển, ngăn cấm mọi hoạt động đối địch, khủng bố, trả thù (Điều 3).
f. Trao trả nhân viên quân sự, thường dân bị bắt (Điều 8).
g. Tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam quyết định quyền tự quyết thông qua tổng tuyển cử tự do dân chủ có kiểm soát quốc tế (Điều 9).
h. Hai bên miền Nam sẽ hiệp thương thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức cuộc tổng tuyển cử (Điều 12).
Một đặc điểm nổi bật trong nội dung Hiệp định Paris là phía Mỹ phải đơn phương cam kết nhiều nhất và trên những vấn đề lớn. Thực hiện Điều 5 của Hiệp định này, ngày 29-3-1973, Bộ Tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn thành lập 11 năm trước, mà nhiều người thường gọi là “Lầu năm góc phương Đông”, làm lễ cuốn cờ. Cùng ngày, tên lính Mỹ cuối cùng lên máy bay rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trên nhiều phương diện. Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương, cam kết không dính líu quân sự. Còn ta thì giữ nguyên lực lượng chính trị vũ trang ở miền Nam. Mỹ phải lùi về chiến lược và ở thế phải tránh một Việt Nam thứ hai. Ta mở ra được một giai đoạn đấu tranh mới, tạo được một thế trận mới và so sánh lực lượng mới có lợi trong lúc chính quyền Sài Gòn mất chỗ dựa và nhanh chóng lún sâu vào khủng hoảng, suy sụp, là tiền đề để cách mạng miền Nam tiến lên giành toàn thắng.
Hiệp định Paris cũng là thắng lợi của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Báo chí nước ngoài dành nhiều lời lẽ tốt đẹp để ca ngợi: “Khi tên lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam, mỗi người dân Việt Nam, mỗi người bạn của dân tộc anh hùng này, mỗi chiến sĩ trong phong trào giải phóng dân tộc rộng lớn trên thế giới đều cảm thấy nhẹ nhõm và nhất là cảm thấy vui mừng trước thắng lợi lịch sử này” (Báo Người chiến sĩ, Algeria); “Thắng lợi giành được của nhân dân Việt Nam, không nghi ngờ gì nữa, có một tầm vóc lớn lao…” (Báo Nhân đạo, Pháp).
Hành trình đi đến thắng lợi vừa nói trên quả rất gian khổ cam go, phức tạp cả trên chiến trường lẫn trên bàn hội nghị. Và ta thấy rõ vai trò lãnh đạo cùng những quyết định đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi quân viễn chinh Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 12 (12-1965) đề ra đường lối đấu tranh trên ba mặt trận: “Trong quá trình chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, ta phải giữ vững quyết tâm chiến lược, đồng thời áp dụng sách lược đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phối hợp với đấu tranh quân sự, chủ động tiến công địch, nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình nhằm tranh thủ rộng rãi dư luận thế giới và cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ”(1). Nghị quyết Trung ương 13 (1-1967) khẳng định: “Đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”(2).
Đấu tranh ngoại giao cũng quyết liệt, khó khăn vì Mỹ là kẻ địch hiếu chiến, theo đuổi chính sách ngoại giao trên thế mạnh. Vì vậy Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn phương thức tốt nhất để phối hợp ba mặt trận là vận dụng “vừa đánh vừa đàm” hầu như trải suốt cuộc chiến tranh. Ngoại giao ta quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vững vàng về nguyên tắc nhưng hết sức linh hoạt về sách lược, khôn khéo và mềm dẻo, đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng bước.
Hội nghị Paris bắt đầu bằng cuộc đàm phán song phương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ngày 13-5-1968. Tác nhân trực tiếp dễ thấy là cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta, một đòn giáng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Johnson tuyên bố đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, không ra tranh cử nhiệm kỳ mới và sẵn sàng cử đại diện thảo luận biện pháp chấm dứt chiến tranh. Bộ Chính trị Đảng ta nhận định, bắt đầu cục diện “vừa đánh vừa đàm” lúc này là thích hợp nhất. Ta nhận ngồi vào bàn đàm phán trên thế mạnh, thế đang thắng. Để ta đồng ý chấp nhận hội nghị bốn bên, ngày 31-10-1968, Johnson lại tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc. Lúc đó, cả thế giới cùng chia vui với nhân dân ta về thắng lợi này.
Cuộc đàm phán Paris là hoạt động ngoại giao lớn và quan trọng nhất của ta từ trước đến nay, đồng thời là một sự kiện quốc tế được dư luận thế giới chú ý nhiều nhất, vì nó gắn liền với diễn biến của chiến trường Việt Nam và Đông Dương, gắn liền với tình hình thế giới. Trước hết nó là cuộc đấu lý, đấu tranh để phân biệt phải trái, đúng sai, không phải nói cho đối phương nghe mà để tranh thủ dư luận quốc tế và dư luận trong nước Mỹ. Cả hai phía, ta và Mỹ, đều rất coi trọng yêu cầu này. Cho đến khi tình hình chiến trường tạo được thời cơ cả hai phía mới đi vào mặc cả giải pháp.
Do đó, cuộc đàm phán quốc tế đã kéo dài tới 4 năm 8 tháng, từ ngày 15-5-1968 đến 27-1-1973, và bao gồm nhiều diễn đàn khác nhau: đàm phán song phương Việt Nam – Mỹ (1968); diễn đàn bốn bên (1969 – 1971); diễn đàn gặp riêng (cuối năm 1972 đầu năm 1973) để tìm giải pháp, giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ.
Đến tháng 12-1972, cuộc đàm phán Paris mở ra hy vọng sáng sủa “hòa bình trong tầm tay”. Nhưng Tổng thống xảo quyệt Nixon đã tung ra một quyết định “đầy thú tính” là mở cuộc tập kích Hà Nội, Hải Phòng bằng pháo đài bay B52 từ tối 18-12-1972. Sau 12 ngày đêm bị tổn thất nặng nề, sáng sớm ngày 31-12-1972, Nixon buộc phải tuyên bố ngừng cuộc tập kích, chỉ thị cho cố vấn Kissinger tiếp tục ngồi vào bàn Hội nghị Paris. Đợt đàm phán cuối cùng diễn ra từ ngày 8 đến 23-1-1973 thì kết thúc và ký tắt. Đến ngày 27-1-1973, Hiệp định được ký chính thức.
Nói Hiệp định Paris là thắng lợi có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dựa trên thực tế đã diễn ra. Trong vòng 10 năm (1963 – 1973), Đảng ta đã 3 lần trù tính phương thức “giành thắng lợi quyết định”. Năm 1964 định đánh đổ chế độ Sài Gòn trước khi Mỹ vào; năm 1968 định giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân với đòn Tết Mậu Thân; năm 1972 định đánh gục địch với cuộc tiến công chiến lược xuân hè. Đến Hiệp định Paris, tổng hòa thắng lợi ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, buộc Mỹ rút hết quân, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Đây là thắng lợi một bước, nhưng là bước lớn có ý nghĩa quyết định đối với cục diện chiến tranh. Nó mở đường để hai năm sau ta giành thắng lợi cuối cùng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân 1975.
--------------------------------------------------
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.650.
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, sđd, tập 28, tr.174
Tác giả bài viết: TRƯƠNG NGUYÊN TUỆ
Nguồn tin: www.hcmcpv.org.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết