Trên đường xuân thống nhất: Kỳ 1 - Theo bước chân thần tốc

Thứ bảy - 25/04/2015 07:31 | Đinh Đại Đồng
Trên đường xuân thống nhất: Kỳ 1 - Theo bước chân thần tốc

Trên đường xuân thống nhất: Kỳ 1 - Theo bước chân thần tốc

Những cung đường biên giới hôm nay đang ngất ngây giọng khèn, tiếng chiêng, nhịp trống của bà con các dân tộc. Những cửa khẩu, cảng biển được trang bị hiện đại tấp nập tàu xe, cho thấy một biên cương đang chuyển mình hội nhập cùng cả nước và trở thành cầu nối đưa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Nhìn dáng đứng của người lính biên phòng trên biên giới hôm nay, lại nhớ đến hành trình xuân của những người lính quân hàm xanh 40 năm trước làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền nam và thực hiện tiếp quản, xây dựng các đồn trạm biên phòng trên những vùng mới giải phóng. Xin đi ngược lại thời gian để nhắc nhớ một phần về họ.

Các đặc vụ CIA của nước Mỹ đã phải đặt biệt danh cho họ là "đội quân rồng xanh" - đội quân này không hùng hậu, không có vũ khí, khí tài tối tân nhưng đã lặng thầm chiến đấu trong lòng địch, giáng nhiều đòn chí mạng vào những cơ quan đầu não của chúng. Họ là những chiến sĩ công an nhân dân vũ trang hay còn gọi là an ninh vũ trang - nay là Bộ đội biên phòng (BĐBP) Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, lực lượng công an nhân dân vũ trang đã cử 2.925 cán bộ chiến sĩ an ninh vũ trang và các đơn vị B17, B18, B19… vào chiến trường miền nam phối hợp chiến đấu.


Chiến sĩ công an vũ trang bảo vệ cảng Cam Ranh sau ngày giải phóng

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta ở miền nam diễn ra gần hai tháng với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn. Trong thời khắc trọng đại của lịch sử dân tộc, lực lượng công an nhân dân vũ trang đã xác định phải bảo vệ vững chắc biên giới miền bắc, đồng thời tích cực chi viện cho cách mạng giải phóng miền nam, với phương châm “trước vững, sau mạnh”. Hòa cùng khí thế thần tốc, quyết thắng của quân dân cả nước, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã cử nhiều đoàn công tác vào miền nam để khảo sát tình hình triển khai lực lượng bảo vệ biên giới, hiệp đồng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và chuẩn bị bảo vệ vùng đất mới giải phóng.

Đại tá Bùi Long, nguyên Cục trưởng Cục Chính trị BĐBP nhớ lại: Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới bờ biển tại các các vùng tự do thuộc cách mạng quản l‎ý, trước đại thắng mùa xuân năm 1975, hàng loạt các đồn trạm biên phòng, chốt kiểm soát của lực lượng công an nhân dân vũ trang đã được thiết lập trên các tuyến biên giới Việt Nam – Lào, Việt Nam – Cam-pu-chia. Ngày 27-1-1973, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền nam, An ninh vũ trang miền nam đã triển khai thành lập và xây dựng hai đồn biên phòng Lò Gò, Xa Mát tại Tây Ninh. Đây là hai đồn biên phòng đầu tiên được thành lập trên tuyến biên giới Việt nam – Cam-pu-chia. Bên cạnh đó Công an nhân dân vũ trang cũng đồng thời cho triển khai các cơ sở đầu tiên để chuẩn bị cho việc xây dựng một hệ thống đồn trạm biên phòng trên toàn bộ biên giới miền Nam Việt Nam.

Sau hiệp định Paris, chiến trường Trị Thiên Huế chia thành hai khu vực; vùng giải phóng chiếm 83% diện tích, vùng địch kiểm soát chiếm 17%, đường ranh giới giữa hai khu vực là dòng sông Thạch Hãn. Nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đã đổ ra đường chào đón hòa bình, chào đón quân giải phóng. Lá cờ giải phóng tung bay trên mảnh đất kiên trung. Lực lượng an ninh vũ trang Quảng Trị lúc này phải quản lý tuyến biên giới Việt Lào và đường bờ biển của vùng mới giải phóng. Các đồn biên phòng Lao Bảo, Phân đội 3 bảo vệ cảng Đông Hà, Phân đội 190 bảo vệ Cửa Tùng, đồn biên phòng 170 Cửa Việt, trạm kiểm soát Nam Hiền Lương đã nhanh chóng được triển khai xây dựng trong nửa đầu năm 1973.

Vừa xây dựng đồn trạm mới, các chiến sĩ quân hàm xanh nơi đây vừa tập trung giúp đỡ nhân dân xây lại những nếp nhà trên đống hoang tàn, đổ nát. Các trạm an ninh trở thành điểm tựa cho bà con giữa lúc bộn bề hậu chiến.

Thực hiện chính sách địch vận, qua hàng rào kẽm gai những người lính công an vũ trang đã chia từng điếu thuốc với những người lính phía bên kia để nói chuyện quê hương, bản quán về câu chuyện một nước Việt Nam thống nhất. Qua đó không ít binh sĩ, sĩ quan ngụy đã thực sự chuyển biến tư tưởng, để trở về với chính quyền cách mạng. Những hình ảnh đầy nhân đạo và tinh thần dân tộc ấy đã được đạo diễn Vũ Ngọc Khôi ghi lại trong những thước phim tư liệu lịch sử quý giá hiện lưu trữ tại Điện ảnh BĐBP.

Cũng tại Quảng Trị, các chiến sĩ an ninh vũ trang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho bốn đợt bàn giao và trao đổi tù binh bên bôn sông Thạch Hãn. Các anh đã chứng kiến biết bao câu chuyện cảm động của những chiến sĩ trong giờ phút trở về từ nhà tù của địch. Thượng tá Trần Anh Tuấn, cán bộ công an nhân dân vũ trang, thành viên phái đoàn giám sát quốc tế của Việt Nam rất xúc động khi chứng kiến nhiều tù nhân kiên trinh sau khi qua bờ bắc liền cởi bỏ trang phục cùng mọi thứ mang theo ném trả về bờ nam sông Thạch Hãn. Những người tù khổ sai ốm yếu, mang trong mình di chứng của bao lần bị địch tra tấn… đều được các chiến sĩ công an vũ trang dìu dắt, chăm sóc tận tình.

40 năm sau, trò chuyện cùng tôi về những ngày tháng ấy, ông Trần Anh Tuấn vẫn bảo với chúng tôi rằng đó thực sự là ấn tượng khó quên trong đời, bởi cảm thấy sao mà thương yêu, trân quý những chiến sĩ của ta quá đỗi.

Giữa lúc những chiến sĩ công an nhân dân vũ trang Quảng Trị bận rộn với hàng trăm nhiệm vụ trong vùng mới giải phóng thì ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta đã mở chiến dịch then chốt, giáng đòn quyết định vào Buôn Ma Thuột. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, hơn 10 vạn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; hơn 60 vạn dân thuộc các dân tộc Tây Nguyên được giải phóng, cùng cất cao tiếng hát tự do.

Trên miền đất còn nóng bỏng lửa đạn, nhiều nhiệm vụ cấp bách đã đặt ra đối với tỉnh ủy, chính quyền và lực lượng an ninh các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đác Lắc. Để bảo đảm an ninh biên giới trên địa bàn chiến lược này, từ năm 1975 đến năm 1976, lực lượng công an nhân dân vũ trang đã triển khai 14 đồn và ba đơn vị cơ động để chốt giữ, kiểm soát hơn 700 km đường rừng dọc tuyến biên giới mới được giải phóng. Đồng thời lực lượng cũng tổ chức đội hình để truy quét kịp thời bọn tàn quân chạy trốn, đẩy lùi bọn phản cách mạng.

Khi đó, Mỹ, ngụy cũng để lại Tây Nguyên một thế hệ những thanh niên trẻ bị đầu độc trong những cơn say ma túy. Các em là nạn nhân của một cuộc sống sa đọa, không lí tưởng, không tương lai. Những chiến sĩ an ninh vũ trang đã ở bên các em, giúp các em vượt qua cám dỗ, tìm ra mục đích cuộc sống của chính mình và hòa cùng nhịp sống mới với buôn làng.

Phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, cũng trong tháng 3 năm 1975, chiến dịch Xuân Hè ở Trị Thiên – Huế bắt đầu các hoạt động quân sự nghi binh. Các phân đội an ninh vũ trang dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy mặt trận đã luồn sâu vào vùng địch, cùng các lực lượng địa phương đồng loạt nổ súng nổi dậy tại chín huyện ven đô Trị Thiên. Trong trận đánh giải phóng Hải Lăng, đồng chí Trương Đức Ninh, chiến sĩ phân đội 201 đã một mình sử dụng B40, tiểu liên và thủ pháo, diệt 12 tên địch. Phá vây không thành, đồng chí bị thương và bị địch bắt giam.

Chiến sĩ công an vũ trang tuyên truyền về chính sách cách mạng cho người dân Huế sau giải phóng 

40 năm sau, chứng kiến sự đổi thay mạnh mẽ và bền vững của Đà Nẵng, đại tá Nguyễn Thành Mai, chiến sĩ an ninh vũ trang tham gia tiếp quản 10 tỉnh Trung Trung Bộ, thành viên ban quân quản vẫn cảm thất rất tự hào. Ông kể: “Ngày 26 tháng 3, Huế hoàn toàn giải phóng. Ta đã đánh tan tập đoàn phòng thủ của địch gồm 4.000 quân thiện chiến nhất của chúng tại chiến trường này. Dẫu vẫn còn ngổn ngang dấu tích của những cuộc di tản, tháo chạy dẫm đạp lên nhau, song cố đô Huế đã trở nên bình yên biết mấy khi những em thơ theo đoàn người đi dọc Trường Tiền chào đón hòa bình.

Thanh niên Huế hát vang bài ca cách mạng bấy lâu nay giấu giếm chỉ dám hát thầm và những người lính một thời lầm đường lạc lối đã vứt súng về lại quê nhà, làm ăn lương thiện. Công an nhân dân vũ trang các tỉnh Vĩnh Linh, Quảng Bình đã kịp thời chi viện để công an vũ trang Trị Thiên Huế vừa tiến quân về chốt giữ các mục tiêu phía trước, vừa bảo vệ vững chắc tuyến sau, đồng thời góp phần đưa hơn 10 vạn dân từ Đà Nẵng – Huế trở về quê cũ”.

Ba ngày sau giải phóng Huế, lúc 15 giờ ngày 29-3-1975, sau khi giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, quân ta đã chiếm lĩnh toàn bộ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và hoàn toàn làm chủ thành phố Đà Nẵng. Từ những căn cứ khác nhau, các đơn vị công an vũ trang có ba đại đội vào Đà Nẵng và một phân đội vào thị xã Hội An với phương châm “đánh địch mà đi”. Công tác tiếp quản các công sở của chế độ cũ như Ty cảnh sát Đà Nẵng, cơ sở tình báo CIA… được tiến hành nhanh chóng. Các cơ sở kinh tế - văn hóa được bảo đảm an toàn, dòng điện thắp sáng cho thành phố được duy trì ổn định, giúp các công xưởng cũng như đời sống của người dân diễn ra bình thường.

Sau Đà Nẵng là các tỉnh thuộc đồng bằng khu 5 từ Phú Yên, Khánh Hòa tới Ninh Thuận, Bình Thuận được giải phóng. Đồng chí Nguyễn Ngọc Châu – nguyên là Đại đội trưởng An ninh vũ trang Phú Yên cho biết, tuy không có những trận đánh ác liệt với hỏa lực mạnh như chiến trường khác, song đã có rất nhiều các chiến sĩ an ninh vũ trang hy sinh trên đường tiến vào giải phóng khu 5 bởi những loạt đạn bắn tỉa của của một số kẻ ngoan cố đang trên đường rút chạy. Nén lại đau thương và căm hận, mệnh lệnh truyền đi khắp các đơn vị cơ sở là phải triển khai tích cực các biện pháp nhằm ổn định tình hình ngay từ những ngày đầu. Và chỉ vài ba ngày sau giải phóng dưới những hàng dừa lại líu ríu bóng trẻ thơ chơi đùa. Những làng biển đã bắt đầu có bóng thuyền ra lộng vào khơi bởi vững lòng hơn khi có bóng người chiến sĩ an ninh gác nơi cửa bể. Một cuộc sống mới đã bắt đầu.

Những ngày tháng ba này, chúng tôi lại có dịp vào thăm Đà Nẵng. Nhìn những sĩ quan biên phòng của thời đại mới “quân phong, quân kỉ” nghiêm ngắn, tác phong đĩnh đạc làm thủ tục nhập cảnh cho những con tàu cập bến Việt Nam mà lòng không khỏi tự hào. 40 năm trước, cũng vào những ngày trời xanh biển biếc như hôm nay, cảng Đà Nẵng – một khu vực biên phòng đặc biệt những ngày mới giải phóng đã tiếp đón hàng trăm con tàu quốc tế cập bến.

ĐẶNG GIANG - PHẠM VÂN ANH
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

THÔNG TIN - LÝ LUẬN

Đăng ký nhận tin

mạng xã hội

DANH MỤC

Truy cập

  • Đang truy cập: 28
  • Hôm nay: 2182
  • Tháng hiện tại: 98699
  • Tổng lượt truy cập: 6055810