Xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong hai cuộc kháng chiến (1945-1975)

Chủ nhật - 09/02/2014 23:33 | Nguyễn Thanh Phong
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao giờ cũng là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng, quyết định tới sự sống còn của Đảng, là cơ sở để giữ vững mục tiêu, con đường, đích đến của sự nghiệp cách mạng nước ta, là niềm tin sắt son, để dân nghe, dân tin, dân làm và dân sát cánh với Đảng trong sự nghiệp giương cao ngọn cờ cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.
Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta đã luôn coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ cần phải tiến hành thường xuyên, không bao giờ được ngơi nghỉ, là một trong những nhân tố quyết định tới mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Ngay sau khi kháng chiến chống Pháp toàn quốc bùng nổ, các cơ quan Trung ương chuyển về căn cứ địa Việt Bắc an toàn, Đảng đã mở các đợt sinh hoạt chính trị trong cán bộ, đảng viên về rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ…
Trong Thư gửi các đồng chí Bắc bộ và Thư gửi các đồng chí Trung bộ (tháng 3-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên cần nêu cao hơn nữa việc tu dưỡng, gương mẫu về đạo đức, trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ, một lòng, một dạ vì dân, chống bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, địa phương chủ nghĩa, bè phái, vô kỷ luật. Người phân tích để các cán bộ đảng viên hiểu rõ vai trò của mình: “Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to, sai một ly đi một dặm”(1).
Bên cạnh việc chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã tăng cường công tác phát triển đảng viên với mục đích kết nạp được những người ưu tú nhất đứng vào hàng ngũ của mình. Đảng mở “lớp tháng Tám” trong công nhân, nông dân, trí thức và chiến sĩ lực lượng vũ trang để kết nạp thêm đảng viên mới. Hàng ngàn công nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sĩ lực lượng vũ trang ưu tú gia nhập Đảng. Đến cuối năm 1947, nâng tổng số đảng viên từ 5.000 trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 lên trên 70.000.
Ngày 21-1-1950, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba, Đảng đề ra chủ trương “hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” và quyết định tổng động viên theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Song sự nóng vội do tình hình khách quan thuận lợi đã tạo ra một không khí chủ quan, ảnh hưởng đến công tác trong toàn Đảng. Ngay lập tức Đảng chấn chỉnh: Một là, củng cố Đảng, phải làm cho Đảng thực sự có tính chất quần chúng mạnh mẽ, Đảng phải gần dân, sát dân, cùng dân, gương mẫu và luôn đi đầu trong các phong trào của nhân dân. Hai là, tiếp tục phát triển đảng, tích cực phát triển đảng ở các vùng địch kiểm soát, nhằm đẩy mạnh ảnh hưởng của Đảng và phong trào đấu tranh trong lòng địch. Ba là, tăng cường giáo dục đảng viên, nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ đảng viên, nhất là tính tiên phong gương mẫu, luôn đi tiên phong trong mọi công tác. Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, giúp nhau cùng tiến bộ. Bốn là, khẩn trương đào tạo cán bộ cho Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và cán bộ quân sự. Năm là, khéo tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện liên lạc khó khăn. Sáu là, Đảng phải kịp thời uốn nắn, khắc phục những lệch lạc trong nhận thức và hành động nóng vội trước chủ trương chuyển mạnh sang tổng phản công, huy động sức dân vượt quá khả năng của dân, không được dân đồng tình.
Để phù hợp với việc ra đời của nhiều chi bộ mới, Đảng tổ chức cuộc vận động xây dựng “chi bộ tự động công tác”, tổ chức cơ sở đảng được tôi luyện và trưởng thành thật sự là hạt nhân lãnh đạo kháng chiến ở các địa phương, các ngành và trong quân đội. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp không nắm vững tiêu chuẩn đảng viên, củng cố không theo kịp sự phát triển. Để khắc phục thiếu sót đó, tháng 9-1950, Đảng quyết định tạm ngừng phát triển để củng cố.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2 - 1951), Đảng ta quyết định ra hoạt động công khai, đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam. Trong tình hình mới, Đảng chỉ ra những tồn tại, khuyết điểm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong đội ngũ đảng viên thời gian qua và nhấn mạnh: phải mở rộng dân chủ, tăng cường tập trung, mở rộng tự phê bình và phê bình, coi việc phát triển tự phê bình và phê bình là khâu chính để mở rộng dân chủ trong Đảng. Để làm được điều đó, Đảng chủ trương nâng cao trình độ lý luận trong cán bộ, đảng viên, khuyến khích quần chúng phê bình chủ trương chính sách của Đảng, phê bình cán bộ và đảng viên.
Sau thành công của Đại hội II, trong Đảng xuất hiện một số nhận thức không đúng như ỷ lại vào bên ngoài, hoặc lạc quan tếu, muốn thắng nhanh, không thấy hết tính chất phức tạp, trường kỳ, gian khổ của cuộc kháng chiến. Để uốn nắn những nhận thức sai, nâng cao tinh thần tự lực tự cường, ngày 29-12-1951, Ban Bí thư ra chỉ thị “Về cuộc vận động chấn chỉnh Đảng”. Đây là một cuộc đấu tranh tự phê bình và phê bình nghiêm túc nhằm thống nhất nhận thức, đoàn kết nội bộ, xây dựng tư tưởng tự lực tự cường, kháng chiến lâu dài trong cán bộ, đảng viên, làm rõ yêu cầu giữa vấn đề dân tộc và dân chủ.
Trên cơ sở đường lối chính trị đúng, quá trình xây dựng Đảng trong kháng chiến đã làm tốt công tác tổ chức và công tác tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, thực sự là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến, làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève (tháng 7-1954) chấm dứt chiến tranh và rút hết quân về nước.
Bước sang giai đoạn chống Mỹ, kẻ thù của ta lúc này đã khác, chúng hung bạo hơn Pháp và mạnh hơn ta gấp nhiều lần trên nhiều mặt, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng, ngăn chặn trào lưu xã hội chủ nghĩa lan rộng xuống khu vực Đông Nam Á… Điều đó cho thấy nhiệm vụ cách mạng đối với Đảng và dân tộc ta trong giai đoạn mới này càng nặng nề hơn, do đó nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải nâng lên một tầm cao mới nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới đã và sắp đặt ra.
Trong kháng chiến chống Mỹ, đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng, trên cùng một đất nước, ở hai miền khác nhau là một thực tiễn chưa có tiền lệ trong lý luận cũng như trong thực tiễn lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặt ra nhiều thách thức cho Đảng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Ở miền Nam, việc phát triển củng cố đảng viên gặp vô vàn khó khăn, vấp phải những sai lầm nghiêm trọng mà Hội nghị Trung ương 15 (tháng 1-1959) vạch ra(2): Chưa chú trọng xây dựng cho cán bộ và đảng viên tư tưởng cách mạng trường kỳ gian khổ, quyết tâm đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm; không nhận rõ ta đang ở “thế” nào trong cuộc đấu tranh với địch hiện nay ở miền Nam; không nhận rõ chỗ mạnh và chỗ yếu của địch để biết hướng phòng ngự và biết hướng tấn công.
Trước những sai lầm đó, Đảng tổ chức học tập, quán triệt và tuyên truyền đường lối cách mạng miền Nam đến cán bộ, đảng viên ở các chi bộ, do vậy mà lực lượng cách mạng được khôi phục nhanh chóng, phong trào quần chúng đã bắt đầu trở lại.
Chủ trương về xây dựng Đảng được thể hiện rõ nhất ở Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) với những nội dung cơ bản(3): xây dựng Đảng Mác – Lênin đoàn kết nhất trí, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, luôn luôn giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng, có đường lối phương châm cách mạng đúng đắn, kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến, coi nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai là nhiệm vụ chủ yếu nhất...; củng cố và tăng cường sự lãnh đạo mọi mặt tư tưởng, tổ chức và cán bộ của Đảng; Đảng phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin và củng cố lập trường giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng; chú trọng việc tổng kết kinh nghiệm, kết hợp lý luận với thực tiễn; tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở tự phê bình và phê bình, nâng cao tính tổ chức và kỷ luật của đảng viên; mở rộng dân chủ và tăng cường tập trung trong sinh hoạt Đảng, thấu suốt đường lối quần chúng của Đảng; tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường cải tiến công tác phát triển đảng, nâng cao trình độ mọi mặt của đảng viên.
Theo chiều hướng phát triển của cuộc kháng chiến, cùng với chủ trương và sự chỉ đạo chung, Đảng luôn khẳng định và bổ sung những nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến trong từng thời kỳ. Biểu hiện tập trung trên một số mặt: phải thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ kỷ luật và trách nhiệm, chế độ thưởng và phạt, đề cao hơn nữa ý thức trách nhiệm của toàn Đảng. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Trung ương, chủ yếu là tăng cường tổ chức chỉ đạo và thực hiện đường lối của Đảng, theo hướng phải đi sâu, đi sát hơn nữa vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta. Phải làm cho đường lối chính sách lớn của Đảng thông suốt xuống toàn Đảng, biến đường lối chính sách đó thành hành động của quần chúng. Trong giai đoạn chống lại âm mưu thủ đoạn trong “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, Đảng chủ trương: cùng với chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường quốc phòng của miền Bắc, cần phải chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ.
Đó là những chủ trương đúng đắn của Đảng đã huy động được sức mạnh của dân tộc vào cuộc chiến chống Mỹ xâm lược.
Sau Hiệp định Paris, với Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (tháng 7-1973), Đảng chủ trương phát triển mọi mặt để chuẩn bị kết thúc chiến tranh thắng lợi. Hội nghị nhấn mạnh “ra sức nâng cao công tác tổ chức của Đảng lên ngang tầm của nhiệm vụ chính trị trước mắt”(4). Hội nghị khẳng định: điều kiện chủ yếu để giành thắng lợi trong giai đoạn mới là Đảng bộ Miền Nam phải thật mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức.
Tháng 12-1974, trước những thành tựu to lớn đạt được ở hai miền, Hội nghị Trung ương lần thứ 23 họp bàn về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng. Hội nghị nêu những phương châm phải nắm vững: Một là, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Công tác tư tưởng và công tác tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bảo đảm cho đường lối, nhiệm vụ chính trị được xác định đúng đắn, được thông suốt và thực hiện thắng lợi. Hai là, xây dựng Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng trong phong trào cách mạng của quần chúng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng. Vận động quần chúng tham gia xây dựng Đảng, tổ chức để quần chúng góp phần kiểm tra sự hoạt động của Đảng, kiểm tra tư cách cán bộ và đảng viên. Ba là, việc xây dựng Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng phải gắn liền với việc nâng cao năng lực quản lý, kiện toàn tổ chức của Nhà nước và việc xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng, hình thành sức mạnh tổng hợp của chuyên chính vô sản. Bốn là, việc nâng cao chất lượng đảng viên phải kết hợp với việc nâng cao chất lượng của tổ chức cơ sở đảng; việc nâng cao chất lượng cán bộ phải kết hợp với việc kiện toàn cơ quan lãnh đạo từng cấp, từng ngành. Năm là, trong công tác phát triển đảng phải coi trọng chất lượng, phát triển phải đi đôi với củng cố, kết nạp vào Đảng những người ưu tú, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất. Luôn luôn cảnh giác đề phòng những phần tử địch, những phần tử cơ hội chui vào Đảng(5).
Chủ trương xây dựng Đảng của Hội nghị Trung ương 23 là cơ sở để toàn dân tộc bước vào một cuộc chiến “đánh cho ngụy nhào” với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”(6), “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”(7) dũng cảm, mưu trí, quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Vì vậy chỉ với 55 ngày lịch sử, quân và dân ta đã đánh cho quân thù tan tác, lập nên những chiến công lừng lẫy.
Những chủ trương xây dựng và chỉnh đốn Đảng đúng đắn trong hai cuộc kháng chiến là cơ sở để Đảng ta đã tạo nên được sự đoàn kết toàn dân tộc vào một mặt trận dân tộc thống nhất, làm cho nhân dân tin tưởng và trao trọn ngọn cờ lãnh đạo đất nước cho Đảng, và thực tế lịch sử cho thấy dân ta đã đúng khi trao trọn niềm tin ấy cho Đảng. Những bài học xây dựng và chỉnh đốn Đảng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
-------------------------------
(1) CD ROM Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tập 10, tr.167.
(2) Tài liệu đã dẫn, tập 20, tr.49-56.
(3) Tài liệu đã dẫn, tập 21, tr.662-717.
(4) Tài liệu đã dẫn, tập 43, tr.258.
(5) Tài liệu đã dẫn, tập 34, tr.288-289.
(6) Tài liệu đã dẫn, tập 32, tr.386.
(7) Tài liệu đã dẫn, tập 36, tr.96.
Tác giả bài viết: Ths Nguyễn Văn Lưu
Nguồn tin: www.hcmcpv.org.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết