Loạt bài “Tích cực thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội” (Bài 3)

Bài 3: Sự bình đẳng của các chủ thể

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) – Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội của Bộ Thông tin và Truyền thông đã hướng đến nhóm đối tượng: (i) Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước sử dụng mạng xã hội; (ii) Tổ chức, cá nhân khác sử dụng mạng xã hội; (iii) Nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam. Việc xác định 3 nhóm đối tượng thể hiện góc nhìn khá toàn diện về các chủ thể liên quan trực tiếp đến việc sử dụng mạng xã hội, đồng thời biểu thị sự bình đẳng của các chủ thể trên tinh thần là hễ liên quan đến mạng xã hội thì người sử dụng, tổ chức sử dụng, nhà quản lý hay nhà cung cấp dịch vụ đều phải có trách nhiệm như nhau.

Đối với nhóm thứ nhất, là những người đang công tác trong các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội…, nói chung là thuộc hệ thống chính trị, kể cả người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, đương nhiên phải thể hiện mình là người sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm và khi có Bộ Quy tắc ứng xử, phải gương mẫu thực hiện. Trong số này, những người là đảng viên thì còn phải thực hiện các chuẩn mực, yêu cầu khác, với tính trách nhiệm cao hơn, tiêu chí về lành mạnh đậm nét hơn.

Trong Bộ Quy tắc ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước được yêu cầu “thực hiện nội dung quy định tại Điều 4 của Bộ Quy tắc này”, đồng thời “thực hiện nội quy của cơ quan, tổ chức về việc cung cấp thông tin lên mạng xã hội”, cũng như phải “thông báo tới cơ quan chủ quản để kịp thời có hướng xử lý, trả lời, giải quyết khi có những ý kiến, thông tin trái chiều, thông tin vi phạm pháp luật có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực quản lý của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động”.

Hiện nay, một số cơ quan, đơn vị, ngành, giới… đã ban hành quy tắc ứng xử riêng của mình[1]; so với Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội của Bộ Thông tin và Truyền thông, có thể có khác biệt nhất định nhưng về cơ bản không mâu thuẫn nhau và có thể đồng thời thực hiện các quy tắc đó.

Ở nhóm thứ hai, là nhóm có số lượng rất đông đảo, có sự khác nhau nhiều về trình độ, nghề nghiệp, lối sống, mức sống… nên các ứng xử với mạng xã hội cũng có sự khác nhau đáng kể. Trong số này, có một số người chưa thực sự lường hết sự tác động xấu hay rủi ro của mạng xã hội nên có khi vô ý hoặc cố ý thể hiện việc sử dụng chưa thực sự an toàn, lành mạnh, tiến bộ. Do đó, Bộ Quy tắc này có ý nghĩa gợi mở, định hướng, điều chỉnh việc sử dụng mạng xã hội của nhiều người và từ đó có thể tác động đáng kể đến việc xây dựng môi trường mạng xã hội lành mạnh, tích cực ở nước ta.

Các định hướng về cách ứng xử trong Bộ Quy tắc đối với nhóm này là nhiều nhất, gồm trọn Điều 4 với 8 khoản. Thoạt tiên, có vẻ nhóm chủ thể này bị ràng buộc nhiều yêu cầu khi sử dụng mạng xã hội nhưng thật ra, các yêu cầu này cũng áp dụng cho một số chủ thể khác như cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước, các cơ quan nhà nước. Như vậy, quy định dành cho nhóm chủ thể mang tính nền tảng, áp dụng cho tất cả các đối tượng tham gia mạng xã hội. Với những chủ thể khác, theo điều kiện làm việc, vị trí công tác…, có thể họ phải thực hiện thêm một số yêu cầu cho phù hợp với vị trí của mình.

Ở nhóm thứ ba, về số lượng cụ thể của các chủ thể này thì không nhiều nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên chất lượng, giá trị và môi trường của mạng xã hội. Nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam có thể bao gồm những nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội của nước ngoài nhưng có hoạt động tại Việt Nam thì phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và bộ quy tắc ứng xử này[2]. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi một số tập đoàn công nghệ cung cấp dịch vụ mạng xã hội khổng lồ của nước ngoài dựa vào mức độ phổ biến của dịch vụ, sức mạnh truyền thông và tính chi phối về công nghệ đã không tuân thủ một nguyên tắc rất quan trọng là “nhập gia tùy tục”.

Các yêu cầu trong Bộ Quy tắc đối với chủ thể này khá chặt chẽ, như “công bố rõ ràng các điều khoản sử dụng dịch vụ”, “ban hành và công khai các biện pháp phát hiện, thông báo và phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý, ngăn chặn và loại bỏ các nội dung thông tin vi phạm”, “phối hợp với tổ chức, cá nhân sử dụng mạng xã hội để xử lý theo các quy định của pháp luật Việt Nam”, “tôn trọng quyền được bảo vệ thông tin của người sử dụng, không thu thập thông tin cá nhân và cung cấp thông tin của người sử dụng dịch vụ cho bên thứ ba khi chưa được sự cho phép của chủ thể thông tin”… Những yêu cầu này xét cho cùng phù hợp với thông lệ chung của pháp luật các nước đối với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, hoàn toàn không phải nhằm “gây khó khăn” hay “cản trở” hoạt động của họ. Rõ nhất là đối với YouTube, trước đây có rất nhiều tài khoản vi phạm pháp luật Việt Nam và các chuẩn mực cộng đồng (tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam, kích động bạo lực, truyền bá mê tín dị đoan…), nhưng thời gian gần đây đã tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng để ngăn chặn, gỡ bỏ những tài khoản xấu, độc.

Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội cũng được khuyến nghị “hướng dẫn người sử dụng mạng xã hội, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của “người yếu thế” trong xã hội (người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em, trẻ vị thành niên, người khuyết tật…) sử dụng mạng xã hội an toàn, lành mạnh nhằm tránh bị khai thác, lạm dụng, bạo lực về tinh thần trên mạng xã hội; có biện pháp để bảo đảm sự an toàn và phát triển lành mạnh của trẻ em, trẻ vị thành niên trên mạng xã hội”. Đây là một yêu cầu rất nhân văn gắn với trách nhiệm cụ thể của các nhà cung cấp chứ không phải để họ đưa ra nền tảng công nghệ, còn việc sử dụng thế nào thì đổ hết trách nhiệm cho người tham gia.

Vừa qua, cuộc tranh cãi giữa Facebook và Google với các nhà lập pháp Úc cho thấy các tập đoàn cần phải điều chỉnh hoạt động theo luật pháp của từng nước. Trên thực tế, khi hoạt động ở Việt Nam, một số nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội đã dần thực hiện theo quy định và yêu cầu của nước ta đối với những vấn đề ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, từng nhóm chủ thể trong các hoạt động liên quan đến việc tham gia mạng xã hội đều được quy định, thể hiện sự hợp lý và bình đẳng, đồng thời cũng khẳng định tính phổ quát của Bộ Quy tắc ứng xử này. Theo đó, từng nhóm chủ thể phải thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tham gia các hoạt động liên quan đến mạng xã hội theo điều kiện cụ thể của mình, để góp phần xây dựng môi trường mạng xã hội thực sự lành mạnh, tiến bộ, nhân văn, có ích.

Vân Tâm
Theo: hcmcpv.org.vn

_______________________

[1] Tại TPHCM, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Đề án 05-ĐA/TU ngày 19/6/2020 về tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội tại TPHCM; Ban Tuyên giáo Thành ủy đã ban hành Bộ quy tắc ứng xử (mẫu) của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang khi sử dụng internet, mạng xã hội theo Quyết định số 14-QĐ/BTGTU ngày 25/2/2021.

[2] Chẳng hạn, bên cạnh một số quy định bắt buộc, nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phải sử dụng ít nhất một tên miền “.vn” và lưu trữ thông tin tại hệ thống máy chủ IP ở Việt Nam, dãy ký tự tạo nên tên miền không được giống/trùng với tên cơ quan báo chí nếu nhà cung cấp không phải là cơ quan báo chí. Mạng xã hội và trang thông tin điện tử tổng hợp của cùng một nhà cung cấp không được sử dụng tên miền có dãy ký tự giống nhau (Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 1/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2018/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng).